Sổ đỏ bố chồng đứng tên con dâu có quyền gì?

15

Hỏi: Bố chồng tôi đứng tên sổ đỏ nhưng cách đây 16 năm ông đã qua đời. Hiện tại, mẹ chồng ở cùng chúng tôi. Ông bà có 4 người con, chồng tôi là con út, 3 chị gái đã lập gia đình.

Vậy xin hỏi luật sư, mẹ chồng tôi có quyền bán mảnh đất này hay không? Không cần mẹ chồng đồng ý, chúng tôi vẫn có thể thế chấp sổ đỏ?

Chân thành cảm ơn!


Hàng thừa kế thứ nhất gồm chồng, vợ, mẹ đẻ, cha đẻ, mẹ nuôi, cha nuôi, con đẻ và con nuôi của người chết. Phần di sản mà những người thừa kế cùng hàng được hưởng là bằng nhau.

Tham Khảo: Xem hướng tốt xây nhà nửa cuối năm 2019

Trả lời:

Điều 651 và Điều 623, Bộ Luật Dân sự năm 2015 quy định về những người thừa kế theo pháp luật như sau: Hàng thừa kế thứ nhất gồm chồng, vợ, mẹ đẻ, cha đẻ, mẹ nuôi, cha nuôi, con đẻ và con nuôi của người chết. Phần di sản mà những người thừa kế cùng hàng được hưởng là bằng nhau.

Những người ở hàng thừa kế sau chỉ được hưởng thừa kế tài sản trong trường hợp hàng thừa kế trước không còn ai (do đã qua đời, từ chối nhận di sản, bị truất quyền hưởng di sản, không có quyền hưởng di sản).

Căn cứ theo quy định nên trên, trường hợp bố chồng bạn qua đời không có di chúc để lại thì di sản của ông (mảnh đất do ông đứng tên sổ đỏ) sẽ được phân chia theo pháp luật cho những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất gồm chồng bạn, mẹ chồng, 3 chị gái, bà nội, ông nội của chồng… (nếu họ còn sống).

Mảnh đất là tài sản chung vợ chồng nên mẹ chồng bạn sẽ được hưởng 1/2, nửa còn lại được chia đều cho những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất và phần di sản mà mỗi người được hưởng là bằng nhau.

Trường hợp mẹ chồng muốn bán hoặc vợ chồng bạn muốn thế chấp sổ đỏ thì cần được sự đồng ý của những người đồng thừa kế còn lại.

Nếu tất cả các thành viên trong gia đình tự thỏa thuận được với nhau về quyền sử dụng đất, các bên sẽ thực hiện thủ tục khai nhận di sản thừa kế rồi tiến hành sang tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và thực hiện các quyền chuyển nhượng, thế chấp… theo đúng quy định hiện hành.

Còn nếu các thành viên gia đình không tự thỏa thuận được về quyền sử dụng đất thì có quyền khởi kiện và yêu cầu tòa án phân chia thừa kế. Đối với trường hợp này, tất cả các bên phải tuân thủ theo quyết định, bản án có hiệu lực của tòa án.

Theo quy định tại Điều 623, Bộ Luật Dân sự năm 2015 về thời hiệu thừa kế: “Thời hiệu để người thừa kế yêu cầu chia di sản là 30 năm đối với bất động sản, 10 năm đối với động sản, kể từ thời điểm mở thừa kế. Hết thời hạn này thì di sản thuộc về người thừa kế đang quản lý di sản đó. Trường hợp không có người thừa kế đang quản lý di sản thì di sản được giải quyết như sau:

– Di sản thuộc quyền sở hữu của người đang chiếm hữu theo quy định tại Điều 236 của Bộ luật này;

– Di sản thuộc về Nhà nước, nếu không có người chiếm hữu quy định tại điểm a khoản này.”

Như vậy, quyền sử dụng mảnh đất sẽ thuộc về người đang quản lý nó nếu hết thời hạn 30 năm tính từ ngày bố chồng bạn qua đời mà không có yêu cầu chia di sản thừa kế.